Nhà thương Chợ Quán – Bệnh viện Bệnh nhiệt đới (1861-2026): Tiền đồn 165 năm với sứ mệnh đối đầu dịch bệnh
- 10 thg 2
- 10 phút đọc
Đã cập nhật: 16 thg 2
Lịch sử hình thành và phát triển của Nhà thương Chợ Quán - Bệnh viện Bệnh nhiệt đới không chỉ là biên niên sử của một cơ sở y tế mà còn là bộ phim tư liệu dài nhiều tập ghi lại các biến động của chiến tranh, dịch bệnh và những thay đổi chính trị - xã hội của Sài Gòn - TP.Hồ Chí Minh cùng vùng đất Nam bộ trong suốt 165 năm qua. Từ thời điểm mở cửa nhận bệnh (13/02/1861), bệnh viện đã được chọn như một tất yếu của lịch sử để trở thành tiền đồn phương Nam trong sứ mệnh đối đầu chống lại các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

1. Ra đời trong chiến tranh và dịch bệnh, phục vụ cho quân đội viễn chinh (1861-1863)
Sau khi đánh chiếm thành Gia Định (1859), để chuẩn bị cho việc tiếp nhận thương binh trong chiến dịch đánh đại đồn Kỳ hòa, tiến tới xâm chiếm toàn bộ Sài gòn và Nam bộ, năm 1860 quân đội viễn chinh Pháp đã chiếm khu đất rộng tại làng Chợ Quán nằm giữa Sài Gòn – Chợ Lớn, nơi có vị trí giao thông thủy, bộ thuận lợi với nhiều kênh rạch đan xen để thành lập một bệnh viện dã chiến 250 giường mang tên Chợ Quán (Hôpital de Cho Quan), mở cửa hoạt động từ ngày 13/02/1861. Bệnh viện không chỉ tiếp nhận thương binh do chiến trận mà còn nhận nhiều binh lính mắc phải các bệnh của xứ nhiệt đới nóng, ẩm khắc nghiệt. Các căn bệnh này đã cướp đi nhiều sinh mạng và làm suy sụp sức chiến đấu của đoàn quân viễn chinh.
Theo số liệu thống kê trong 12 tháng đầu hoạt động của Bệnh viện Chợ Quán qua Báo cáo nội - ngoại khoa của cuộc viễn chinh Nam kỳ giai đoạn 1861-1862 (Relation Médico-Chirurgicale de l'Expédition de la Cochinchine en 1861-1862) của bác sĩ cao cấp A. Didiot, Cục trưởng Cục quân y của lực lượng viễn chinh Pháp, cho thấy quân đội Pháp thương vong do các bệnh nhiễm trùng-truyền nhiễm nhiều hơn do chiến đấu (Bảng A, B). Trong khoảng thời gian này, Bệnh viện Chợ Quán đã tiếp nhận 2.849 ca nhập viện, chủ yếu là binh lính và lực lượng phu người Hoa phục vụ chiến dịch xâm chiếm Nam kỳ. Tuy nhiên, chỉ có 103 ca là thương binh (3,6%) nhập viện và 10 trường hợp tử vong do vết thương quá nặng. Hầu hết bệnh nhân mắc các bệnh nhiễm trùng-truyền nhiễm, trong đó bệnh sốt rét nhiều nhất với 1.215 ca, kế đến là bệnh giang mai với 465 ca (bệnh nhiễm trùng do xoắn khuẩn Treponema pallidum). Các bệnh có tỷ lệ tử vong cao là các bệnh nhiễm từ đường tiêu hóa: bệnh lỵ với 39 ca chết trên 250 ca mắc (tỉ lệ ~15,6%) và bệnh tả với 71 ca tử vong trên 459 người mắc (tỉ lệ tử vong ~15,5%). Bệnh viện khi ấy, với nguồn lực có hạn, đã đối mặt với một thực tế y tế vô cùng gay go: không chỉ tiếp nhận điều trị cho thương binh và binh lính mắc các bệnh nhiễm trùng-truyền nhiễm (sốt rét, lỵ, thương hàn, tiêu chảy, hoa liễu,...) tại Sài Gòn và vùng lân cận mà còn phải gồng mình tiếp nhận, điều trị cho nhiều bệnh tả nặng trong đó có 86 ca từ Mỹ Tho chuyển về.


Nguồn: M. A. Didiot.Relation Médico-Chirurgicale de l'Expédition de la Cochinchine en 1861-1862, 1865
(trang16-17)
Được thành lập nhằm phục vụ cho quân đội viễn chinh Pháp, trong những năm đầu hoạt động (1861-1863), Bệnh viện Chợ Quán tuy giữ vai trò là cơ sở hậu cần quân y và trung tâm cách ly, điều trị truyền nhiễm đáp ứng nhu cầu y tế khẩn cấp cho quân đội Pháp nhưng đã lộ diện mô hình ban đầu và sự cần thiết về một bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm cho vùng đất Sài Gòn - Chợ Lớn và Nam bộ, nơi có hệ thống sông ngòi chằng chịt và khí hậu nhiệt đới nóng ẩm trở thành môi trường lý tưởng cho các loại dịch bệnh hoành hành.
2. Hành trình xuyên thế kỷ của tiền đồn phòng chống dịch bệnh qua các thời kỳ quản lý dân sự (1864-1975)
Lịch sử của vùng đất phương Nam với đô thị hạt nhân Sài Gòn - Chợ Lớn trong giai đoạn trải dài 111 năm (1864-1975) ghi nhận nhiều biến động sâu sắt về chính trị, kinh tế, xã hội với các tác động tiêu cực do chiến tranh, di dân, đô thị hóa tự phát cùng môi trường ô nhiễm và sự thiếu hụt về phúc lợi y tế là những điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch, bệnh truyền nhiễm nguy hiểm xuất hiện, bùng phát.
Ngày 01/01/1864, Bệnh viện Chợ Quán được bàn giao cho chính quyền dân sự quản lý, điều hành mở ra thời kỳ bệnh viện thực hiện sứ mệnh bảo vệ sức khỏe và tính mạng cho người dân trước đe dọa của nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm dù trải qua nhiều giai đoạn quản lý dân sự dưới các thể chế chính trị khác nhau kéo dài cho đến năm 1975.
Trong giai đoạn từ năm 1864-1900, Nam kỳ đã phải hứng chịu những trận dịch tả kinh hoàng. Vi khuẩn tả theo dòng nước sông Cửu Long tràn vào kinh rạch Sài Gòn – Chợ Lớn, gây ra cái chết trắng cho hàng vạn người. Đỉnh điểm là những năm cuối thế kỷ 19, dịch bùng phát dữ dội đến mức các nghĩa trang quá tải, buộc Bệnh viện Chợ Quán phải thực hiện cách ly cưỡng chế để ngăn chặn thảm họa xóa sổ khu đô thị trung tâm này.

Nguồn: An Interim report of the Cholera epidemic
20/12/1963 - 30/04/1964 Vietnam,1964
Bước sang hai thập niên đầu thế kỷ 20, dịch tả không hề thuyên giảm mà còn bùng phát dữ dội. Theo Niên giám thống kê Đông Dương, các trận đại dịch năm 1905, 1910 - 1912 và 1919 - 1920 đã càn quét khắp Nam Kỳ với độc lực mạnh. Đặc biệt, báo cáo từ Viện Pasteur Sài Gòn ghi nhận dịch tả lan truyền theo các ghe bầu chở gạo, khiến Bệnh viện Chợ Quán phải sử dụng các dãy nhà lớn ngăn cách riêng để làm khu cách ly đặc biệt.
Sự khốc liệt của giai đoạn này còn nằm ở chỗ các dịch bệnh khác xảy ra đan xen. Dịch hạch càn quét dồn dập từ 1898 đến 1908, trong khi dịch đậu mùa xảy ra triền miên vào các năm 1900, 1911 và 1916. Sự nối đuôi nhau của các đại dịch đã biến giai đoạn này trở thành thời kỳ đen tối của y tế khu vực. Đến những năm 1963-1964, miền Nam lại đối mặt với đại dịch tả El Tor bùng phát trong bối cảnh chiến sự ác liệt.
Cùng thời gian này, một dịch bệnh mới là Sốt xuất huyết Dengue bắt đầu tấn công mạnh mẽ vào các năm 1963, 1969 và 1974, gây ra tỷ lệ tử vong rất cao ở trẻ em do thiếu phác đồ điều trị chuẩn.
Bên cạnh những trận dịch bùng phát dữ dội trên, Bệnh viện Chợ Quán còn là thành trì chống lại các loại bệnh truyền nhiễm xảy ra triền miên và dai dẳng như: sốt rét ác tính, thương hàn, lỵ và uốn ván,... Các bệnh này thường xảy ra do điều kiện vệ sinh hạn chế và hệ thống kênh rạch chằng chịt.
Trong hành trình xuyên thế kỷ (1864-1975), dù phải liên tục ứng phó với các dịch bệnh nguy hiểm, khốc liệt, Bệnh viện Chợ Quán vẫn luôn vững vàng với vị thế là tiền đồn trực diện tại vị trí chiến lược giữa hai khu vực sầm uất Sài Gòn - Chợ Lớn, trung tâm của Nam kỳ, Bệnh viện không chỉ tiếp nhận điều trị mà còn phân loại và cách ly bệnh tại các khu biệt lập xung quanh được sát khuẩn, giúp ngăn chặn hiệu quả sự lây nhiễm chéo trong bệnh viện. Đặc biệt, từ năm 1891, khi Viện Pasteur Sài Gòn được thành lập, nghiên cứu và sản xuất vaccine đã liên kết chặt chẽ với Bệnh viện Chợ Quán làm nơi thực nghiệm lâm sàng và ứng dụng các loại vaccine, huyết thanh kháng bệnh để dập tắt các ổ dịch bùng phát.
3. Giai đoạn sau 1975 đến nay: Bản sắc “Bệnh nhiệt đới"
Từ năm 1861 đến trước 30/04/1975, dù nhiệm vụ cốt lõi là chống dịch và điều trị các bệnh truyền nhiễm, Bệnh viện Chợ Quán vẫn vận hành như một bệnh viện đa khoa với các khoa: Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Tâm thần,...để đáp ứng nhu cầu y tế của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Tuy nhiên, sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ hậu chiến với muôn vàn khó khăn. Kinh tế suy sụp, điều kiện sống hạn chế khiến dịch tả, dịch hạch, sốt rét, lao... bùng phát dữ dội ảnh hưởng nghiêm trọng an sinh xã hội, sức khỏe và tính mạng người dân.
Trước thực trạng cấp bách đó, nhận thấy sự cần thiết phải có một bệnh viện chuyên ngành truyền nhiễm với đội ngũ nhân viên có bản lĩnh, năng lực, kinh nghiệm để tập trung nguồn lực chống dịch hiệu quả và Bệnh viện Chợ Quán là ứng viên duy nhất đáp ứng được yêu cầu trên, GS.BS. Nguyễn Duy Thanh – Chủ nhiệm Bộ môn Nhiễm ĐH Y Dược TP.HCM, Giám đốc bệnh viện lúc bấy giờ đã khẩn trương kiến nghị lãnh đạo ngành y tế thành phố và Bộ Y tế thực hiện bước đi chiến lược này. Tâm huyết đó đã dẫn đến sự ra đời của Quyết định số 903/BYT ngày 04/08/1979 của Bộ Y tế, chính thức giao nhiệm vụ cho Bệnh viện Chợ Quán là bệnh viện chuyên khoa về truyền nhiễm, phụ trách điều trị, phòng chống dịch, huấn luyện đào tạo chuyên khoa cho TPHCM và các tỉnh phía Nam.

Năm 1989, UBND TPHCM quyết định đổi tên bệnh viện thành Trung tâm Bệnh nhiệt đới trực thuộc Sở Y tế. Kể từ đây, tên gọi theo địa danh vùng đất mà bệnh viện hình thành và phát triển Chợ Quán đã đi vào quá khứ và được thay bằng tên theo bản sắc chuyên môn của bệnh viện: “Bệnh nhiệt đới”
Năm 2002, nhằm đáp ứng yêu cầu phải đổi tên các trung tâm thành bệnh viện, Ban Giám đốc đã lấy ý kiến tập thể để chọn tên gọi chính thức cho đơn vị. Tên gọi Bệnh viện Bệnh nhiệt đới đã ra đời từ sự đồng thuận của đội ngũ viên chức, người lao động và nhanh chóng được UBND TP.HCM phê duyệt, liên tục được sử dụng cho đến nay.
Trong bối cảnh diễn biến dịch bệnh ngày càng phức tạp với nhiều tác nhân mới có, cũ trổi dậy có: HIV/AIDS, sốt xuất huyết, tay chân miệng, viêm gan siêu vi, liên cầu lợn, não mô cầu, thương hàn, cúm H5N1,…đội ngũ thầy thuốc của bệnh viện luôn giữ vững tâm thế của những người lính đặc nhiệm chống dịch tuyến đầu. Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19, bệnh viện đã thể hiện vai trò chủ lực không thể thay thế. Từ kỳ tích cứu sống bệnh nhân phi công số 91 năm 2020 đến việc chuyển đổi công năng thành bệnh viện tầng 3 điều trị ca nặng và nguy kịch năm 2021, bệnh viện đã trở thành điểm tựa vững chãi nhất cho TP.HCM và các tỉnh phía Nam. Ngay cả khi đối mặt với thử thách phong tỏa nội bộ, ngọn lửa trách nhiệm vẫn rực sáng khi bệnh viện vừa điều trị tốt tại chỗ, vừa hỗ trợ nhân sự cho hàng loạt bệnh viện dã chiến. Thành tựu này đã được tôn vinh xứng đáng với Giải thưởng Thành tựu Y khoa Việt Nam 2022.
Bệnh viện còn là cơ sở thực hành chuyên ngành Nhiễm cho hàng ngàn học viên, sinh viên từ các đơn vị đào tạo danh tiếng như Đại học Y Dược TP.HCM, ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch và Khoa Y (ĐH Sức khỏe-ĐHQG TP.HCM). Với mô hình kết hợp Viện – Trường, đây là nơi tôi luyện bản lĩnh lâm sàng cho các thế hệ nghiên cứu sinh, bác sĩ nội trú và điều dưỡng chuyên ngành Nhiễm.
Một trong những trụ cột làm nên danh tiếng quốc tế của bệnh viện chính là hoạt động nghiên cứu khoa học chiến lược. Thông qua hợp tác bền chặt với Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU) và các tổ chức uy tín như WHO, CDC Hoa Kỳ, nhiều năm liền bệnh viện nằm trong top 10 đơn vị nghiên cứu khoa học hàng đầu Việt Nam theo bảng xếp hạng Nature Index. Những nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về thuốc kháng sinh, thuốc kháng virus và phác đồ điều trị sốt xuất huyết tại đây không chỉ cứu sống bệnh nhân Việt Nam mà còn góp phần vào kho tàng y học nhân loại.
4. Lời kết
Hành trình 165 năm từ Nhà thương Chợ Quán đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới là thiên sử ký hào hùng của các thế hệ thầy thuốc bản lĩnh, những người đã hiến dâng tâm sức để đối đầu với các dịch bệnh nguy hiểm vì sự bình an của nhân dân, quê hương, đất nước. Khởi nguồn từ ngày 13/02/1861, bệnh viện đã xác lập dấu ấn lịch sử khi được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VIETKINGS) công nhận là Bệnh viện lâu đời nhất Việt Nam.
Sứ mệnh cao cả làm 'điểm tựa' cho một tiền đồn chống dịch suốt hơn một thế kỷ rưỡi qua đã trở thành niềm tự hào thân thương trong trái tim mỗi thành viên dưới mái Chợ Quán-Bệnh nhiệt đới.
“Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa
Vui gì hơn làm người lính đi đầu
Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa!”
Tố Hữu
Ngọn lửa trong tim ấy chính là ánh sáng của tri thức soi đường, là sức nóng của ý chí kiên cường để thiêu đốt mọi mầm bệnh, bảo vệ sự sống. Đội ngũ thầy thuốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới hôm nay nguyện dấn thân giữ vững nguồn sáng thiêng liêng đó, thắp sáng khát vọng về một thế giới không còn bị đe dọa bởi dịch bệnh. Bệnh viện Bệnh nhiệt đới sẽ mãi là ngọn lửa tin cậy, là thành trì vững chãi nơi tuyến đầu, canh giữ cho nhân dân một cuộc sống an lành.
BS. LÊ MẠNH HÙNG




